Loading...
Thứ Sáu, 04/9/2026

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: RÍT, RÍT CHÚA, RÍT NHƯ KẸO KÉO - BA MỨC ĐỘ CỦA MỘT NGƯỜI KEO KIỆT

Có khi nào bà con nghe người miền Nam nhận xét ai đó: “Cha nội đó rít lắm!”, “Ông đó rít chúa!” hay “Rít như kẹo kéo!” chưa?

Thoạt nghe, nhiều người có thể nghĩ rít là “kéo rít”, “siết rít” hay một âm thanh nào đó. Nhưng trong phương ngữ Nam Bộ, rít lại là một từ dùng để chỉ tính cách rất quen thuộc trong đời sống: keo kiệt, bủn xỉn, không muốn chi xài của mình cho bất cứ ai, việc gì. Ví dụ: “Cha con thằng đó rít lắm. Ai mà thèm chơi với họ”.

Từ nghĩa gốc này, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, người Nam Bộ tiếp tục mở rộng thành những cách nói giàu sắc thái như: Rít chúa. Trong từ điển, “rít chúa” được giải thích là rất keo kiệt, bủn xỉn. Ví dụ: “Gặp cái thằng cha rít chúa đó mà anh đề nghị nó hỗ trợ thì còn lâu”. Chữ chúa ở đây có tác dụng nhấn mạnh mức độ, cho thấy người được nhắc đến không chỉ keo kiệt mà còn keo kiệt đến mức nổi tiếng, ai cũng biết.

Vậy còn “rít như kẹo kéo” thì sao? (Cũng có thể nói: rít như kẹo mạch nha) rất keo kiệt, bủn xỉn, có tiền nhưng không dám chi xài cho những việc thiết yếu. Ví dụ: “Gặp cái lão rít như kẹo kéo đó mà ổng rủ đi du lịch thì nằm mơ giữa ban ngày.” Hình ảnh kẹo kéo (hay kẹo mạch nha) vốn dẻo, kéo mãi không đứt được, được người Nam Bộ mượn để ví von một người giữ tiền quá chặt, không chịu bỏ ra dù trong những việc cần thiết.

Ba cách nói rít, rít chúa và rít như kẹo kéo đều mang sắc thái khẩu ngữ, thường được dùng để nhận xét hoặc trêu đùa về tính keo kiệt của một người. Tuy nhiên, mức độ biểu đạt có sự khác nhau:

Rít: chỉ người keo kiệt, bủn xỉn.

Rít chúa: nhấn mạnh mức độ rất keo kiệt.

Rít như kẹo kéo: cách ví von sinh động, chỉ người keo kiệt đến mức có tiền mà cũng không muốn chi tiêu cho những việc cần thiết.

Chỉ từ một từ rít, người Nam Bộ đã phát triển thêm những cách nói như rít chúa và rít như kẹo kéo để diễn tả nhiều cấp độ của tính keo kiệt. Những cách diễn đạt này vừa ngắn gọn, giàu hình ảnh, vừa thể hiện lối ví von mộc mạc, hóm hỉnh rất đặc trưng trong tiếng nói Nam Bộ.

Bà con còn biết những từ ngữ Nam Bộ nào diễn tả tính cách con người một cách dí dỏm như rít, rít chúa hay rít như kẹo kéo không? Hãy chia sẻ cùng Thư viện và đừng quên theo dõi chuyên mục “Chuyện chữ nghĩa phương Nam” để khám phá thêm nhiều câu chuyện thú vị về ngôn ngữ vùng đất phương Nam nhen!

 

chuyen-chu-nghia-9

-----

Nội dung: Phùng Vịnh

Minh họa: Phùng Vịnh

Nguồn tham khảo: Huỳnh Công Tín (2009). Từ điển Từ ngữ Nam Bộ. NXB Chính trị Quốc gia.

Tin liên quan

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM | KHI TỪ “BA” KHÔNG CÒN DÙNG ĐỂ ĐẾM - “BA CHỚP BA NHÁNG”, “BA ĐỒNG BẢY ĐỖI”, “BA SỚN BA SÁC”

Trong nhịp sống hằng ngày của cư dân vùng đất Nam Bộ, hẳn không ít lần bà con bắt gặp những câu như: “Nói gì mà ba đồng bảy đỗi vậy!”, “Nghe ba chớp ba nháng chẳng hiểu gì hết!” hay “Coi chừng ba sớn ba sác bỏ quên đồ đó!” Những cách nói ấy đã ăn sâu vào lời ăn tiếng nói của người dân Tây Nam Bộ, vừa tạo nhịp điệu tự nhiên, vừa làm cho câu chuyện trở nên sinh động và giàu sắc thái biểu cảm. Thế nhưng, với những ai chưa quen với phương ngữ Nam Bộ, những cách nói này dễ mang cảm giác bối rối bởi từ ngữ lạ tai khiến người nghe khó đoán được ý nghĩa. Nhìn chung, dù mỗi cụm từ đều mang một sắc thái biểu đạt riêng và được dùng trong những ngữ cảnh khác nhau nhưng đều có điểm chung là giàu tính khẩu ngữ, nhịp điệu hài hòa dễ gây ấn tượng với người nghe. Vậy thực chất “ba chớp ba nháng”, “ba đồng bảy đỗi” và “ba sớn ba sác” được dùng theo nghĩa thế nào?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM | THANH MINH THANH NGA - MỘT CÁCH NÓI BẮT NGUỒN TỪ ĐOÀN CẢI LƯƠNG NỔI TIẾNG

Bà con đã từng nghe người miền Nam nói: “Đừng có mà thanh minh thanh nga!” bao giờ chưa?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “RÀNH SÁU CÂU” - CẢ MỘT TRỜI VỌNG CỔ TRONG LỜI KHEN CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Trong tiếng nói Nam Bộ, “rành sáu câu” là cách nói dùng để chỉ người hiểu rõ một việc, nắm chắc đầu đuôi, khó bị qua mặt. Cụm từ này có gốc từ sinh hoạt vọng cổ, cải lương, rồi đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày như một cách khen người rành việc, biết chuyện.
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: TỪ “KIA” ĐẾN “KÌA, KỈA, KÍA, KỊA” - CHỈ LÀ NHỮNG BIẾN ÂM NGẪU NHIÊN HAY LÀ MỘT NÉT RIÊNG CỦA TIẾNG NÓI NAM BỘ?

Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Nam Bộ, chắc hẳn không ít lần bà con mình nghe được những cách nói như “hôm kỉa”, “bữa kía”, hay thậm chí “ngày kịa” và tự hỏi: Rốt cuộc đó là ngày nào? Bởi nếu chỉ quen với cách nói “hôm kia” trong tiếng Việt phổ thông, nhiều người sẽ nghĩ những cách nói như “kìa, kỉa, kìa, kía, kịa” chỉ là những cách phát âm nghe cho vui tai của từ “kia”. Nhưng thật ra, trong phương ngữ Nam Bộ những từ ấy không chỉ là những biến âm thú vị mà còn mang nhiều ý nghĩa biểu đạt khác.
Xem chi tiết