Loading...
Thứ Tư, 19/8/2026

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: TỪ “KIA” ĐẾN “KÌA, KỈA, KÍA, KỊA” - CHỈ LÀ NHỮNG BIẾN ÂM NGẪU NHIÊN HAY LÀ MỘT NÉT RIÊNG CỦA TIẾNG NÓI NAM BỘ?

Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Nam Bộ, chắc hẳn không ít lần bà con mình nghe được những cách nói như “hôm kỉa”, “bữa kía”, hay thậm chí “ngày kịa” và tự hỏi: Rốt cuộc đó là ngày nào? Bởi nếu chỉ quen với cách nói “hôm kia” trong tiếng Việt phổ thông, nhiều người sẽ nghĩ những cách nói như “kìa, kỉa, kìa, kía, kịa” chỉ là những cách phát âm nghe cho vui tai của từ “kia”. Nhưng thật ra, trong phương ngữ Nam Bộ những từ ấy không chỉ là những biến âm thú vị mà còn mang nhiều ý nghĩa biểu đạt khác.

Theo Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ của Huỳnh Công Tín (2019), “kia” là từ dùng để chỉ một địa điểm, một thời gian hoặc một đối tượng mà người nói muốn nhắc đến và người nghe có thể hiểu được nhờ vào ngữ cảnh của câu nói hoặc dựa vào sự ngầm hiểu giữa người nói và người nghe. Ở trường hợp dùng để chỉ thời gian, “kia, kìa, kỉa, kía, kịa” được dùng để chỉ thời điểm đã diễn ra, thuộc quá khứ. Như nói hôm kia thì được ngầm hiểu theo trình tự là hôm nay (ngày đang nói), trước hôm nay một ngày là hôm qua và trước hôm qua một ngày là hôm kia. Chẳng hạn, nếu hôm nay là thứ sáu thì hôm qua là thứ năm còn hôm kia sẽ là thứ tư.

Điều thú vị là người Nam Bộ dường như vẫn chưa muốn dừng lại ở từ “kia” bởi sau hôm kia, người ta còn có thể nói hôm kìa, hôm kỉa, hôm kía, thậm chí hôm kịa. Những từ này được xem là các biến âm của “kia” được dùng để chỉ những ngày tiếp theo sau ngày kia, có nghĩa là những ngày lùi xa hơn về quá khứ. Tuy nhiên, trong giao tiếp thực tế, các biến âm này không phải là hệ thống dùng để chỉ ngày cố định. Người Nam Bộ thường dùng khá linh hoạt, phần lớn chúng sẽ được sử dụng để gợi cảm giác sự việc đã xảy ra từ lâu, lâu đến mức chẳng ai còn nhớ chính xác là ngày nào. Ví dụ: “Bức hình đó chụp ngày kỉa, ngày kịa lận rồi, ai mà nhớ nổi!”

Có thể thấy, chỉ với một từ “kia” quen thuộc, người Nam Bộ đã tạo nên cả một chuỗi cách nói giàu sắc thái, vừa linh hoạt trong cách dùng, vừa phản ánh lối giao tiếp hóm hỉnh, phóng khoáng của cư dân miền sông nước. Điều này không chỉ góp phần tạo nên sự phong phú cho hệ thống phương ngữ Nam Bộ nói riêng mà còn góp phần khẳng định sự đa dạng và giàu bản sắc của tiếng Việt nói chung.

Bà con mình còn biết những từ ngữ Nam Bộ nào nghe vui tai mà thú vị nữa hông? Hãy chia sẻ cùng Thư viện nhen! Và đừng quên theo dõi Fanpage Thư viện số Nguyễn An Ninh để đón chờ thêm nhiều chuyên đề thú vị về Nam Bộ nghen!

 

chuyen-chu-nghia-6

-----

Nội dung: Anh Thư

Minh họa: Phùng Vịnh

Nguồn tham khảo: Huỳnh Công Tín (2009). Từ điển Từ ngữ Nam Bộ. NXB Chính trị Quốc gia

Tin liên quan

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “RÀNH SÁU CÂU” - CẢ MỘT TRỜI VỌNG CỔ TRONG LỜI KHEN CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Trong tiếng nói Nam Bộ, “rành sáu câu” là cách nói dùng để chỉ người hiểu rõ một việc, nắm chắc đầu đuôi, khó bị qua mặt. Cụm từ này có gốc từ sinh hoạt vọng cổ, cải lương, rồi đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày như một cách khen người rành việc, biết chuyện.
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “HẠNG CÁ KÈO” - TƯỞNG CHUYỆN CÁ HÓA RA CHUYỆN NGƯỜI

Nghe đến cụm từ “hạng cá kèo”, không ít người sẽ ngạc nhiên nghĩ rằng cá kèo thì ai cũng biết, nhưng cá kèo mà cũng có “hạng” nữa sao. Thoạt nghe, đây chỉ là một cách nói vui tai của người Nam Bộ. Thế nhưng đằng sau cách nói dân dã ấy lại là cả một câu chuyện thú vị về những đêm hát xưa, về đời sống văn hóa bình dân và đặc biệt là lối quan sát hóm hỉnh, giàu hình tượng của người dân miền sông nước.
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: NGƯỜI NAM BỘ ĐÃ KHIẾN CHỮ “NHỎ” TRỞ NÊN THÚ VỊ NHƯ THẾ NÀO?

Trong tiếng Việt, để nói về “cái nhỏ”, người ta thường nghĩ ngay đến những từ quen thuộc như “nhỏ”, “bé”, “bé tí”, “nhỏ xíu”,… Nhưng khi bước vào thế giới ngôn ngữ của người Nam Bộ, cái “nhỏ” ấy bỗng trở nên sinh động hơn với hàng loạt cách nói giàu hình ảnh. Để thấy rõ sự sáng tạo và cái duyên trong lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ, có thể tìm hiểu thông qua một số cách diễn đạt về cái “nhỏ” như sau:
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “TỔ BÀ CHẢNG”, “TỔ BÀ DỀNH”, “TỔ BÀ NÁI” - BỰ GÌ MÀ BỰ DỮ VẬY TRỜI!

Trong tiếng nói Nam Bộ, gặp cái gì to quá, bự quá, người ta đâu chỉ nói “bự lắm” là xong. Nhiều khi bà con mình nói nghe đã miệng hơn, như “tổ bà chảng”, “tổ bà dềnh”, “tổ bà nái”. Nghe một phát là biết liền, cái đó bự quá chừng, quá cỡ bình thường.
Xem chi tiết