Loading...
Thứ Bảy, 27/6/2026

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “HẠN BÀ CHẰN” - NGHE NHƯ CHUYỆN DÂN GIAN, HÓA RA LÀ CHUYỆN THỜI TIẾT

Đang giữa mùa mưa, trời bỗng đứng nắng chang chang suốt nhiều ngày liền. Ruộng đồng thì khô rang, người lớn nhìn trời rồi thở dài: “Tới hạn bà chằn rồi!”. Nghe cái tên vừa lạ vừa có chút “rờn rợn” ấy khiến nhiều người cứ tưởng đó là câu chuyện dân gian nào đó ở phương Nam. Nhưng thật ra, “hạn bà chằn” lại là một cách gọi rất độc đáo của người Nam Bộ để chỉ một hiện tượng thời tiết quen thuộc. Vậy “bà chằn” là ai, và vì sao một đợt nắng hạn giữa mùa mưa lại mang cái tên đặc biệt đến vậy?

Theo Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ (Huỳnh Công Tín, 2019) “hạn bà chằn” được dùng với nghĩa chuyên biệt để chỉ một đợt khô hạn ngắn giữa mùa mưa ở Nam Bộ. Khi trời nắng kéo dài, đồng ruộng bắt đầu khô cạn, nứt nẻ, những sinh vật có hình dạng giống con đỉa (dân gian gọi là “con bà chằn”) phải bò đi tìm nơi có nước và để lại trên mặt đất những lối ngoằn ngoèo do chất dịch của chúng tiết ra mà mắt thường có thể nhìn thấy. Từ hiện tượng ấy, người dân đã gọi khoảng thời gian khô hạn này là “hạn bà chằn”.

Cách gọi này gắn liền với đời sống sản xuất nông nghiệp của cư dân đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt vào thời điểm việc canh tác còn phụ thuộc nhiều vào nước trời. Trong thực tế sử dụng, cụm từ này thường xuất hiện trong những câu chuyện mà người dân Nam Bộ nói với nhau về thời tiết, mùa vụ và ruộng đồng như khi “Năm nào tới tháng này cũng có hạn bà chằn” hay “Ruộng đang có nước mà gặp hạn bà chằn là cực lắm”.

Theo lý giải khoa học, hiện tượng này xuất hiện do ảnh hưởng của các luồng gió xoáy nghịch trên cao, thường xảy ra vào khoảng tháng 8. Dưới tác động của áp cao Thái Bình Dương, gió đông nam khô sẽ đẩy lùi gió tây mang nhiều hơi ẩm, khiến khu vực đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện những đợt nắng hạn ngắn ngay giữa mùa mưa.

Việc sử dụng cách gọi “hạn bà chằn” để chỉ một hiện tượng thời tiết đã góp phần thể hiện dấu ấn văn hóa đặc trưng trong ngôn ngữ Nam Bộ. Qua cách nói dân dã ấy, có thể thấy người phương Nam luôn quan sát thiên nhiên bằng kinh nghiệm thực tế và diễn đạt mọi thứ bằng những hình ảnh gần gũi với ruộng đồng, sông nước. Chính điều đó đã tạo nên nét mộc mạc nhưng đầy sinh động trong lời ăn tiếng nói của người miền Tây.

 

chuyen-chu-nghia-2

-----

Nội dung: Anh Thư

Minh họa: Phùng Vịnh

Nguồn tham khảo: Huỳnh Công Tín. 2019. Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ. NXB Văn hóa - Văn nghệ.

Tin liên quan

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM | KHI TỪ “BA” KHÔNG CÒN DÙNG ĐỂ ĐẾM - “BA CHỚP BA NHÁNG”, “BA ĐỒNG BẢY ĐỖI”, “BA SỚN BA SÁC”

Trong nhịp sống hằng ngày của cư dân vùng đất Nam Bộ, hẳn không ít lần bà con bắt gặp những câu như: “Nói gì mà ba đồng bảy đỗi vậy!”, “Nghe ba chớp ba nháng chẳng hiểu gì hết!” hay “Coi chừng ba sớn ba sác bỏ quên đồ đó!” Những cách nói ấy đã ăn sâu vào lời ăn tiếng nói của người dân Tây Nam Bộ, vừa tạo nhịp điệu tự nhiên, vừa làm cho câu chuyện trở nên sinh động và giàu sắc thái biểu cảm. Thế nhưng, với những ai chưa quen với phương ngữ Nam Bộ, những cách nói này dễ mang cảm giác bối rối bởi từ ngữ lạ tai khiến người nghe khó đoán được ý nghĩa. Nhìn chung, dù mỗi cụm từ đều mang một sắc thái biểu đạt riêng và được dùng trong những ngữ cảnh khác nhau nhưng đều có điểm chung là giàu tính khẩu ngữ, nhịp điệu hài hòa dễ gây ấn tượng với người nghe. Vậy thực chất “ba chớp ba nháng”, “ba đồng bảy đỗi” và “ba sớn ba sác” được dùng theo nghĩa thế nào?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: RÍT, RÍT CHÚA, RÍT NHƯ KẸO KÉO - BA MỨC ĐỘ CỦA MỘT NGƯỜI KEO KIỆT

Có khi nào bà con nghe người miền Nam nhận xét ai đó: “Cha nội đó rít lắm!”, “Ông đó rít chúa!” hay “Rít như kẹo kéo!” chưa?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM | THANH MINH THANH NGA - MỘT CÁCH NÓI BẮT NGUỒN TỪ ĐOÀN CẢI LƯƠNG NỔI TIẾNG

Bà con đã từng nghe người miền Nam nói: “Đừng có mà thanh minh thanh nga!” bao giờ chưa?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “RÀNH SÁU CÂU” - CẢ MỘT TRỜI VỌNG CỔ TRONG LỜI KHEN CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Trong tiếng nói Nam Bộ, “rành sáu câu” là cách nói dùng để chỉ người hiểu rõ một việc, nắm chắc đầu đuôi, khó bị qua mặt. Cụm từ này có gốc từ sinh hoạt vọng cổ, cải lương, rồi đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày như một cách khen người rành việc, biết chuyện.
Xem chi tiết