Loading...
Thứ Bảy, 27/6/2026

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “TỔ BÀ CHẢNG”, “TỔ BÀ DỀNH”, “TỔ BÀ NÁI” - BỰ GÌ MÀ BỰ DỮ VẬY TRỜI!

Trong tiếng nói Nam Bộ, gặp cái gì to quá, bự quá, người ta đâu chỉ nói “bự lắm” là xong. Nhiều khi bà con mình nói nghe đã miệng hơn, như “tổ bà chảng”, “tổ bà dềnh”, “tổ bà nái”. Nghe một phát là biết liền, cái đó bự quá chừng, quá cỡ bình thường.

Theo Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ của Huỳnh Công Tín (2019) “tổ bà” có nghĩa là quá to, to quá mức bình thường. Từ đó có thêm mấy cách nói như “tổ bà chảng”, “tổ bà dềnh”, “tổ bà nái” để nhấn mạnh thêm cái sự to lớn ấy. Mấy từ này trong lời nói hằng ngày thường được dùng gần nghĩa nhau, tùy người quen miệng chữ nào thì nói chữ đó.

Ví dụ, thấy chiếc xe lớn đậu chắn hết đường, người ta nói: “Chiếc xe tổ bà chảng, đậu cái hết con lộ”. Hoặc thấy cái ghe bự quá, cũng có thể nói: “Cái ghe tổ bà dềnh, làm sao vô lọt con rạch”. Còn nồi bánh nhiều quá, ăn hoài không hết, người ta lại nói: “Cái nồi tổ bà nái, nấu cả trăm bánh, chớ hổng ít đâu”.

Ngoài mấy tiếng trên, tiếng Nam Bộ còn có “tổ cha”, “tổ mẹ” thường dùng để nói cái gì to tướng, lớn dữ hoặc một chuyện gì đó nhiều quá mức theo cảm nhận của người nói. Chẳng hạn như nói “con sông tổ cha” hay “bao gạo tổ mẹ, ai mà vác cho nổi.” Mấy chữ này nghe mạnh miệng, nên thường dùng trong lúc nói chuyện thân quen, xuề xòa. Còn “tổ đãi” thì lại là chuyện khác mà Thư viện sẽ bật mí cho bà con ở kỳ sau.

 

chuyen-chu-nghia-3

-----

Nội dung: Phùng Vịnh

Minh họa: Phùng Vịnh

Nguồn tham khảo: Huỳnh Công Tín (2019). Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ. NXB Văn hoá - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.

Tin liên quan

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM | KHI TỪ “BA” KHÔNG CÒN DÙNG ĐỂ ĐẾM - “BA CHỚP BA NHÁNG”, “BA ĐỒNG BẢY ĐỖI”, “BA SỚN BA SÁC”

Trong nhịp sống hằng ngày của cư dân vùng đất Nam Bộ, hẳn không ít lần bà con bắt gặp những câu như: “Nói gì mà ba đồng bảy đỗi vậy!”, “Nghe ba chớp ba nháng chẳng hiểu gì hết!” hay “Coi chừng ba sớn ba sác bỏ quên đồ đó!” Những cách nói ấy đã ăn sâu vào lời ăn tiếng nói của người dân Tây Nam Bộ, vừa tạo nhịp điệu tự nhiên, vừa làm cho câu chuyện trở nên sinh động và giàu sắc thái biểu cảm. Thế nhưng, với những ai chưa quen với phương ngữ Nam Bộ, những cách nói này dễ mang cảm giác bối rối bởi từ ngữ lạ tai khiến người nghe khó đoán được ý nghĩa. Nhìn chung, dù mỗi cụm từ đều mang một sắc thái biểu đạt riêng và được dùng trong những ngữ cảnh khác nhau nhưng đều có điểm chung là giàu tính khẩu ngữ, nhịp điệu hài hòa dễ gây ấn tượng với người nghe. Vậy thực chất “ba chớp ba nháng”, “ba đồng bảy đỗi” và “ba sớn ba sác” được dùng theo nghĩa thế nào?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: RÍT, RÍT CHÚA, RÍT NHƯ KẸO KÉO - BA MỨC ĐỘ CỦA MỘT NGƯỜI KEO KIỆT

Có khi nào bà con nghe người miền Nam nhận xét ai đó: “Cha nội đó rít lắm!”, “Ông đó rít chúa!” hay “Rít như kẹo kéo!” chưa?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM | THANH MINH THANH NGA - MỘT CÁCH NÓI BẮT NGUỒN TỪ ĐOÀN CẢI LƯƠNG NỔI TIẾNG

Bà con đã từng nghe người miền Nam nói: “Đừng có mà thanh minh thanh nga!” bao giờ chưa?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “RÀNH SÁU CÂU” - CẢ MỘT TRỜI VỌNG CỔ TRONG LỜI KHEN CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Trong tiếng nói Nam Bộ, “rành sáu câu” là cách nói dùng để chỉ người hiểu rõ một việc, nắm chắc đầu đuôi, khó bị qua mặt. Cụm từ này có gốc từ sinh hoạt vọng cổ, cải lương, rồi đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày như một cách khen người rành việc, biết chuyện.
Xem chi tiết