Loading...
Thứ Hai, 06/7/2026

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “HẠNG CÁ KÈO” - TƯỞNG CHUYỆN CÁ HÓA RA CHUYỆN NGƯỜI

Nghe đến cụm từ “hạng cá kèo”, không ít người sẽ ngạc nhiên nghĩ rằng cá kèo thì ai cũng biết, nhưng cá kèo mà cũng có “hạng” nữa sao. Thoạt nghe, đây chỉ là một cách nói vui tai của người Nam Bộ. Thế nhưng đằng sau cách nói dân dã ấy lại là cả một câu chuyện thú vị về những đêm hát xưa, về đời sống văn hóa bình dân và đặc biệt là lối quan sát hóm hỉnh, giàu hình tượng của người dân miền sông nước.

Cá kèo là loài cá quen thuộc của vùng sông nước Nam Bộ. Chúng có thân hình thon dài, da trơn bóng, không có vảy và trên mình thường điểm những vằn sẫm màu. Ngày trước, cá kèo xuất hiện dày đặc ở các cửa sông, bãi bồi nên được xem là loài cá dân dã, giá rẻ nên người ta thường bán cá kèo theo mớ chứ ít khi tính từng con. Điều thú vị nằm ở tập tính của loài cá này. Khi được rọng trong thau hay chậu nước, cá kèo thường vùi gần hết thân mình dưới nước, chỉ nhô lên phần đầu với đôi mắt hướng lên phía trên. Nhìn từ xa, hàng chục, hàng trăm con cá chen chúc nhau, chỉ thấy lố nhố những chiếc đầu và những đôi mắt đang ngước nhìn. Chính hình ảnh ấy đã khơi gợi nên một liên tưởng đầy hóm hỉnh của người Nam Bộ, để rồi từ đó hình thành nên quán ngữ độc đáo: “hạng cá kèo”.

Ngày trước khi các gánh hát hoặc đoàn hát về biểu diễn ở vùng nông thôn Nam Bộ, điều kiện sân khấu còn đơn sơ, nhiều nơi không có rạp hát hay ghế ngồi cố định. Người xem từ khắp nơi kéo đến, quây quần ngồi trên những khoảng sân trống trước sân khấu, trong khi chỉ một vài hàng ghế ít ỏi được dành cho khách mời hoặc những người có vị thế trong xóm. Để mọi người đều có thể thưởng thức buổi diễn, sân khấu thường được dựng cao hơn mặt đất, nổi bật giữa đám đông khán giả đang háo hức dõi theo từng lớp tuồng, câu hát. Từ trên sân khấu nhìn xuống, người diễn chỉ thấy nhấp nhô vô số cái đầu và những đôi mắt đang chăm chú hướng lên. Khung cảnh ấy gợi liên tưởng đến đàn cá kèo trong chậu nước: thân mình chìm khuất, chỉ còn phần đầu và đôi mắt ngước nhìn lên trên. Có lẽ từ sự tương đồng đầy thú vị ấy mà người Nam Bộ đã gọi một cách hài hước nhóm khán giả bình dân đông đảo này là “hạng cá kèo”. Ban đầu, cách gọi dùng để chỉ tầng lớp công chúng phổ thông đi xem hát. Về sau, nghĩa của từ được mở rộng để chỉ loại vé có giá rẻ nhất, dành cho số đông khán giả bình dân. Từ đó xuất hiện cách nói quen thuộc “vé hạng cá kèo”.

Từ hình ảnh một loài cá quen thuộc nơi sông nước, người Nam Bộ đã sáng tạo nên cách nói “hạng cá kèo” vừa sinh động vừa giàu sức gợi. Không chỉ phản ánh một nét sinh hoạt văn hóa gắn với những đêm hát bình dân thuở trước, cách gọi này còn cho thấy óc quan sát tinh tế, khả năng liên tưởng hóm hỉnh và lối diễn đạt đậm chất hình tượng của cư dân vùng đất phương Nam gợi nên sắc thái thân thuộc, vui vẻ và dí dỏm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.

Ở chỗ bà con còn những cách nói nào khác của người Nam Bộ nghe vừa lạ vừa vui tai nữa hông? Hãy cùng chia sẻ với thư viện và đừng quên theo dõi Fanpage Thư viện số Nguyễn An Ninh để khám phá thêm nhiều câu chuyện thú vị về ngôn ngữ và văn hóa Nam Bộ trong các số kế tiếp nhen!

 

chuyen-chu-nghia-5

-----

Nội dung: Anh Thư

Minh họa: Phùng Vịnh

Nguồn tham khảo: Huỳnh Công Tín (2019). Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ. NXB Văn hoá - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

Tin liên quan

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: NGƯỜI NAM BỘ ĐÃ KHIẾN CHỮ “NHỎ” TRỞ NÊN THÚ VỊ NHƯ THẾ NÀO?

Trong tiếng Việt, để nói về “cái nhỏ”, người ta thường nghĩ ngay đến những từ quen thuộc như “nhỏ”, “bé”, “bé tí”, “nhỏ xíu”,… Nhưng khi bước vào thế giới ngôn ngữ của người Nam Bộ, cái “nhỏ” ấy bỗng trở nên sinh động hơn với hàng loạt cách nói giàu hình ảnh. Để thấy rõ sự sáng tạo và cái duyên trong lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ, có thể tìm hiểu thông qua một số cách diễn đạt về cái “nhỏ” như sau:
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “TỔ BÀ CHẢNG”, “TỔ BÀ DỀNH”, “TỔ BÀ NÁI” - BỰ GÌ MÀ BỰ DỮ VẬY TRỜI!

Trong tiếng nói Nam Bộ, gặp cái gì to quá, bự quá, người ta đâu chỉ nói “bự lắm” là xong. Nhiều khi bà con mình nói nghe đã miệng hơn, như “tổ bà chảng”, “tổ bà dềnh”, “tổ bà nái”. Nghe một phát là biết liền, cái đó bự quá chừng, quá cỡ bình thường.
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “HẠN BÀ CHẰN” - NGHE NHƯ CHUYỆN DÂN GIAN, HÓA RA LÀ CHUYỆN THỜI TIẾT

Đang giữa mùa mưa, trời bỗng đứng nắng chang chang suốt nhiều ngày liền. Ruộng đồng thì khô rang, người lớn nhìn trời rồi thở dài: “Tới hạn bà chằn rồi!”. Nghe cái tên vừa lạ vừa có chút “rờn rợn” ấy khiến nhiều người cứ tưởng đó là câu chuyện dân gian nào đó ở phương Nam. Nhưng thật ra, “hạn bà chằn” lại là một cách gọi rất độc đáo của người Nam Bộ để chỉ một hiện tượng thời tiết quen thuộc. Vậy “bà chằn” là ai, và vì sao một đợt nắng hạn giữa mùa mưa lại mang cái tên đặc biệt đến vậy?
Xem chi tiết

CHUYỆN CHỮ NGHĨA PHƯƠNG NAM: “BÀ CỐ LUỸ BÀ CỐ LAI”, “NĂM THÌN BÃO LỤT” - XƯA LẮM RỒI, AI MÀ NHỚ CHO NỔI

Trong tiếng nói Nam Bộ, khi muốn nói một chuyện gì đó đã quá lâu, quá cũ người ta không nhất thiết phải dùng những mốc thời gian rõ ràng. Đôi khi, chỉ cần một câu nói dân dã như “từ thời bà cố luỹ bà cố lai” hay “hồi năm Thìn bão lụt” người nghe đã hiểu ngay chuyện ấy xưa lắm rồi.
Xem chi tiết